KHỞI SỰ KINH DOANH NĂM 2010

DIỄN ĐÀN KHỞI SỰ KINH DOANH NĂM 2010 CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
 
Trang ChínhPortalCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 bai viet ve tieu chuan sang loc

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
nguyenthidiep_f-star



Tổng số bài gửi : 15
Join date : 17/08/2010

Bài gửiTiêu đề: bai viet ve tieu chuan sang loc   Tue Aug 24, 2010 3:46 pm

Yếu tố trong tiêu chuẩn sàng lọc: ngành và thị trường.
1. Thị trường: Thị trường là tập hợp những người mua hiện thực hay tiềm năng đối với một sản phẩm. Qui mô của thị trường phụ thuộc vào số cá nhân có nhu cầu và có những sản phẩm được người khác quan tâm đến và sẵn lòng đem đổi những sản phẩm này để lấy cái mà họ mong muốn.
- Một thị trường có thể hình thành xung quanh một sản phẩm, một dịch vụ, hoặc bất cứ cái gì khác có giá trị. Chẳng hạn, thị trường lao động bao gồm những người muốn cống hiến sự làm việc của họ để đổi lấy lượng tiền hay sản phẩm. Thị trường tiền tệ xuất hiện để thõa mãn nhu cầu của con người sao cho họ có thể vay mượn, để dành và bảo quản được tiền bạc…
- Chúng ta không nên quan niệm hạn hẹp thị trường như là một địa điểm diễn ra các quan hệ trao đổi. Trong xã hội phát triển, thị trường không nhất thiết phải là những địa điểm cụ thể.
- Các doanh nghiệp có tiềm năng cao hơn có thẻ xác định một lỗ hổng thị trường cho một sản phẩm hay dịch vụ nào đó đáp ứng đượ nhu cầu quan trọng của khách hàng, và đem đến cho khách hàng nhiều giá trị gia tăng và lợi ích tạo ra giá trị.
- Những cơ hội có tiềm năng thấp hơn là những cơ hội không tập trung vào nhu cầu của khách hàng và không thể tiếp cận được khách hàng, hoặc khách hàngđã có nhãn hiệu riêng của họ hoặc trung thành đối với sản phẩm hay công ty khác. Thời gian hoàn vốn cho người sử dụng là hơn 3 năm và những thuộc tính giá trị gia tăng hay giá trị tạo ra thấp cũng làm cho cơ hội trở nên kém hấp dẫn. Việc không thể mở rộng vượt ra ngoài phạm vi một sản phẩm có thể làm cho cơ hội ít tiềm năng hơn.
2. Khách hàng:
- Khách hàng là những người sử dụng sản phẩm hay dịch vụ của các công ty, các doanh nghiệp. Khách hàng là thượng đế, tất cả các doanh nghiệp hay công ty đều hướng đến khách hàng và ngĩ ra các chiến lược để khách hàng biết đến và sử dụng sản phẩm hay dịch vụ của mình. Chính vì vậy mà doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường khách hàng của mình một cách kĩ lưỡng. Một doanh nghiệp đáp ứng khách hàng tốt phải có khả năng nhận diện và thõa mãn nhu cầu khách hàng tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh, có như vậy khách hàng sẽ cảm nhận được giá trị sản phẩm và dịch vụ của công ty, và công ty đó sẽ có lợi thế cạnh tranh trên thị trường và chắc chắn sẽ mang lại được lợi nhuận cho công ty.
3. Lợi ích người sử dụng:
- Lợi ích của người sử dụng nhận được đó chính là sự thõa mãn và mức độ hài lòng của chính bản thân họ khi sử dụng sản phẩm hay dịch vụ. Sự thõa mãn đó chính là trạng thái cảm nhận của một người qua việc tiêu dùng sản phẩm hay dịch vụ về mức độ lợi ích mà sản phẩm hay dịch vụ đó thực tế đem lại so với những gì người đó kì vọng.
- Đối với những doanh nghiệp coi khách hàng là trung tâm thì sự thõa mãn của khách hàng vừa là một trong những mục tiêu hàng đầu, vừa là một công cụ marketing cực kì quan trọng. Chính điều này đã giúp các doanh nghiệp đó có mức lợi nhuận cao và đứng vững trên thị trường. Ví dụ như tập đoàn Dell computer’s.
4. Chu kì của sản phẩm:
- Chu kì của sản phẩm là quá trình vận động và biến đổi của sản phẩm trên thị trường. Chu kì sống của sản phẩm mô tả sinh động các giai đoạn trong quá trình tiêu thụ của một sản phẩm. Tương ứng với những giai đoạn này là những cơ hội và những vấn đề cần giải quyết với chiến lược marketing và khả năng sinh lời.
- Các sản phẩm khác nhau thì có chu kì sống khác nhau và các giai đoạn của chu kì sống có độ dài hay ngắn khác nhau, mức tiêu thụ và lợi nhuận ở những giai đoạn cũng khác nhau. Điều đó cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chiến lược marketing, tài chính, sản xuất ,cung ứng và nhân sự khác nhau trong mỗi giai đoạn thuộc chu kì sống của mỗi sản phẩm.
5. Cấu trúc thị trường:
- Cấu trúc thị trường là yếu tố rất quan trọng đối với một cơ hội kinh doanh. Cấu trúc thị trường được đặc trưng bởi những yếu tố số lượng như người bán, quy mô phân phối của người bán, sự khác biệt của các sản phẩm, điều kiện gia nhập và rời khỏi ngành, số lượng người mua,các điều kiện chi phí, và độ co dãn của cấu với giá.
- Một thị trường manh mún, không hàm hảo hay một ngành đang nổi thường hàm chứa trong nó là những lỗ hổng và những sự không đối xứng, tạo ra lỗ hổng thị trường chưa được lấp đầy hay thõa mãn. Ví dụ như các thị trường mà người ta có thể được quyền sở hữu các nguồn lực, có được những lợi thế về chi phí. Thêm vào đó thị trường có những lỗ hổng về thông tin hay kiến thức, nơi mà sự cạnh tranh chính là lợi nhuận nhưng không mạnh dến nỗi bị chôn vùi thì thị trường đó là hấp dẫn.
- Những ngành tập trung cao, cạnh tranh hoàn hảo, hay những ngành đã bão hòa hay đang suy tàn, là điển hình chio những ngành không hấp dẫn. Các nhu cầu về vốn và chi phí để đạt được hiệu quả trong phân phối và marketing cao có thể là rào cản và các chiến lược cắt giảm giá, các chiến lược cạnh tranh khác trong những thị trường tập trung cao có thể là một rào cản gia nhập. Chống lại các đối thủ cạnh tranh thông thường vốn đã định vị tốt thông qua chiến lược sản phẩm, các chiến thuật hợp pháp, và những điều tương tự như vậy cũng có thể làm kiệt quệ túi tiền của công ty.
6. Tốc độ tăng trưởng:
- Một thị trường hấp dẫn là một thị trường lớn và đang tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng hằng năm từ 30-50% tạo ra các khe hở cho những người xâm nhập mới. Thị trường đó là một thị trường phát đạt và có khả năng mở rộng hơn là một thị trường ổn định hay co lại, nơi mà những người cạnh tranh giành nhau trên cùng các khe hở thị trường.
7. Thị phần đạt được(sau 5 năm):
- Tiềm năng để trở thành nhà lãnh đạo thị trường và nắm giữ ít nhất 20% thị phần có thể tạo ra giá trị rất cao đối với một công ty còn nếu không thì giá trị của nó có thể không bằng giá trị sổ sách.
- Những người dẫn đầu thị trường cũng có thể phát triển bằng cách làm tăng hơn nữa thị phần của mình. Thực tiễn kinh doanh ở các nước phát triển cho thấy rằng giữa thị phần chiếm lĩnh và khả năng sinh lời có mối quan hệ khá chặt chẽ. Khả năng sinh lời của doanh nghiệp tăng tỉ lệ thuận với mức tăng của thị phần tương đối cảu nó trên thị trường mà doanh nghiệp phục vụ. Điều này làm cho nhiều doanh nghiệp theo đuổi các chiến lược mở rộng thị phần và lấy đó làm mục tiêu, bởi vì nó không chỉ tạo ra nhiều lợi nhuận mà còn tạo ra khả năng sinh lời lớn hơn.
8. Cấu trúc chi phí:
- Một công ty có khả năng trở thành nhà cung cấp với chi phí thấp là một công ty hấp dẫn, nhưng một công ty liên tục đối mặt với việc cắt giảm chi phí lại là một công ty kém hấp dẫn. những cơ hội hấp dẫn nằm trong những ngành mà tính kinh tế theo qui mô của nó không đáng kể. Những cơ hội hấp dẫn thường có chi phí học hỏi thông qua thực hiện thấp. Nếu công ty mới có sản phẩm với chi phí trên một đơn vị sản phẩm cao mà lượng bán nhỏ, thì các công ty đang hoạt động trên thị trường có chi phí cổ đông thấp sẽ có những cơ hội thị trường hấp dẫn hơn.




Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
bai viet ve tieu chuan sang loc
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» ARPA- Automatic Radar Plotting Aids
» Tóm tắt nội dung công ước SOLAS
» IMO Standard Marine Communication Phrases (SMCP) on CD
» Lịch sử ra đời các tiêu chuẩn ổn định
» Hướng dẫn thiết kế lắp đặt điện theo tiêu chuẩn IEC

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
KHỞI SỰ KINH DOANH NĂM 2010 :: KẾ HOẠCH CÔNG VIỆC :: DIỄN ĐÀN NHÓM 3-
Chuyển đến