KHỞI SỰ KINH DOANH NĂM 2010

DIỄN ĐÀN KHỞI SỰ KINH DOANH NĂM 2010 CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
 
Trang ChínhPortalCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 bài viết tiêu chuẩn sàng lọc

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
danghaiha_amber

avatar

Tổng số bài gửi : 33
Join date : 17/08/2010
Age : 27
Đến từ : đà nẵng

Bài gửiTiêu đề: bài viết tiêu chuẩn sàng lọc   Thu Aug 26, 2010 7:59 am



BÀI VIẾT VỀ YẾU TỐ TRONG TIÊU CHUẨN SÀNG LỌC
KHÁC BIỆT VỀ CHIẾN LƯỢC


Để khởi sự một công việc kinh doanh , lựa chọn loại hình kinh doanh mà sẽ làm việc cho bạn đòi hỏi phải xem xét một số yếu tố quan trọng. Để đảm bảo rằng kinh doanh là khả thi, bạn cần phải xác định một sản phẩm hay dịch vụ với một thị trường mà bạn có thể phát triển. Cái cần cho khởi sự là phải bắt đầu từ những ý tưởng kinh doanh. Nếu doanh nghiệp biết tạo ra cái mới, cái khác biệt về sản phẩm hay dịch vụ của mình thì sẽ tạo ra cơ hội kinh doanh thành công cho doanh nghiệp khi gia nhập vào thị trường.
Có rất nhiều cơ hội kinh doanh khác nhau, nhưng để lựa chọn được cơ hội dẫn đến ý tưởng kinh doanh tốt rất khó. Cần phải biết sàng lọc cơ hội nào đúng mới là vấn đề cốt lõi. Các cơ hội đều có các tiêu chí đánh giá cơ hội để các nhà đầu tư vốn mạo hiểm lựa chọn cơ hội cho bản thân họ.
Một hoạt động kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào, thì cũng cần người chủ doanh nghiệp có cái nhìn chiến lược về doanh nghiệp của mình. Mọi chiến lược thành công đều liên quan đến việc tạo sự khác biệt. Một chủ doanh nghiệp không có cái nhìn chiến lược sẽ khó mô tả hoạt động kinh doanh của mình, họ cần có cái nhìn chiến lược sắc bén, một chiến lược khác biệt thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xác định được sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp, khách hàng của doanh nghiệp mình là ai, thị trường mà doanh nghiệp hướng tới, và việc kinh doanh của doanh nghiệp mình tại sao lại thu được lợi nhuận. Do đó, ý tưởng về chiến lược khác biệt sẽ nắm bắt được cơ hội kinh doanh tốt cho doanh nghiệp mình, để doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động kinh doanh sẽ có lãi.

Nếu bạn chưa lựa chọn chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp, bạn sẽ thiếu đi cơ hội về thời gian chuẩn bị cho chiến lược, cần phải có kế hoạch cụ thể cho chiến lược của doanh nghiệp. Quá trình lựa chọn kế hoạch và kinh nghiệm của bạn và kiến thức hoàn chỉnh để đưa ra sự khác biệt về chiến lược của doanh nghiệp mình là rất quan trọng cho sự thành công của bạn.


Mục tiêu của chiến lược tạo sự khác biệt là đạt được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp bằng cách tạo ra sản phẩm hay dịch vụ được khách hàng nhìn nhận là độc đáo về một vài đặc tính quan trọng. Những tổ chức theo đuổi chiến lược tạo sự khác biệt cố gắng thõa mãn nhu cầu khách hang theo cách mà các đối thủ cạnh tranh không thể thực hiện, nhờ vậy bạn có thể bán sản phẩm với giá cao hơn so với các đối thủ.

Để tạo sự khác biệt, tổ chức phải trở thành độc đáo trong ngành của nó về những gì mà khách hàng cho là giá trị. Nó có thể lựa chọn một hay nhiều thuộc tính mà khách hàng cho là quan trọng và tự định vị để đáp ứng nhu cầu độc đáo. Ví dụ mô hình kinh doanh trực tiếp của Dell là mô hình đầu tiên trong ngành máy tính và nó liên tục trở thành nguồn lực chính tạo thành công cho Dell.

Thông thường, một hãng có chiến lược tạo sự khác biệt có thể có mức giá cao hơn và đạt được lợi nhuận cao hơn. Nhưng một tổ chức muốn sử dụng sự khác biệt như nguồn gốc tạo ra sự cạnh tranh thì nó phỉa làm cho sản phẩm và hệ thống của mình khó có thể bắt chước. Thường thì các yếu tố khó bắt chước thường là văn hóa, thói quen và chi phí chìm. Chẳng hạn như tại sao các đối thủ không thể bắt chước được mô hình kinh doanh trực tiếp vượt trội của Dell, thậm chí Michael Dell đã viết một cuốn sách về mô hình này. Thực ra các đối thủ có thể bắt chước được trang web, và có thể làm tốt hơn, nhưng điều họ sẽ phải đối mặt lại chính là ở các hoạt động hỗ trợ như mua sắm, lập kế hoạch, cung ứng… những thứ mà Dell đã tạo dựng cho mô hình kinh doanh trực tiếp của minhg hàng thập kỷ. Các đối thủ bị áp lực đè nặng bởi các quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp và phân phối, và bởi những văn hóa khác

Trong số những quyết định chiến lược quan trọng nhất là chiến lược tạo sự khác biệt mà mỗi công ty phải xây dựng,đó là lựa chọn một sản phẩm hau dịch vụ mới. Những quyết định này xác định sự tăng trưởng, khả năng sinh lợi và định hướng tương lai cho công ty, doanh nghiệp của mình. Mỗi công ty có thể giành được lợi thế cạnh trnah đáng kể là nhờ vào chiến lược tạo sự khác biệt có thể là nhờ có ý tưởng thiết kế sản phẩm và dịch vụ vượt trội, sự linh hoạt của các nhà lãnh đạo, các nhà thiết kế đối với nhu cầu thay đổi thường xuyên của khách hàng.







Tuy nhiên, ý tưởng về chiến lược khác biệt cần phải xem xét trên khía cạnh mức độ phù hợp. Khi đem chiến lược mà bạn nghĩ rằng nó thú vị vào thị trường cạnh tranh mà không xem xét xem rằng chiến lược đó có phù hợp với thị trường mà bạn đang tiếp cận đó hay không, hoặc là mức độ phù hợp đó thấp hay cao mà bạn không quan tâm thì có thể chiến lược đó của bạn sẽ thất bại và không được thị trường đó chấp nhận. Sự khác biệt được thể hiện theo cách mà khách hàng đánh giá cao. Nếu như sự khác biệt về chiến lược của doanh nghiệp bạn có mức độ phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp lưa chọn càng cao thì nó đem lại cho doanh nghiệp cơ hội kinh doanh hấp dẫn, giúp doanh nghiệp có chỗ đứng trên thị trường, cạnh tranh với các đối thủ trong nghành, có được mối quan tâm của khách hàng, và thu được lơi nhuận.


Việc đưa ra một sự khác biệt về chiến lược cũng rất cần sự hỗ trợ của một nhóm. Làm việc nhóm là rất quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công của chúng ta trong công việc. Khi thưc thi một chiến lược đồi hỏi sự phụ thuộc của nhiều bộ phận khác nhau trong tổ chức và việ sử dụng nhóm được coi là một cách thức liên kết các bộ phận với nhau để thực hiện quá trình. Nhóm có thể từ nhều bộ phận khác nhau trong tổ chức làm việc cung nhau để đpá ứng nhu cầu khách hàng, vì nhân viên với khả năng giới hạn khó có thể thõa mãn nhu cầu khách hàng. Bởi khi làm việc nhóm, mỗi thành viên với tích cách khác nhau, lối suy nghĩ khác nhau sẽ có những ý tưởng khác nhau, cùng làm trong một nhóm các thành viên sẽ đóng góp ý kiến cho nhau về ý tưởng cũng như cùng nhau xây dựng nên một ý tưởng hoàn hảo tạo sự khác biệt. Do một yếu tố khá quan trọng của các thành viên trong nhóm là sự đa dang. Nhiều tổ chức nhận ra rằng những quyết định tốt, những chiến lược khác biệt đều tạo ra từ sự đa dạng về ý tưởng của những cá nhân có kiến thức nền, kinh nghiệm, sự quan tâm khác nhau. Hơn nữa, trong môi trường kinh doanh hiện nay đò hỏi sự linh hoạt, phản ứng nhanh trước những nhu cầu thay đổi khách hàng. Nhóm có thể có khả năng đáp ứng nhanh chóng những thay đổi đó. Một nhóm làm việc với những nhân viên xuất sắc sẽ thường tạo ra sự thống nhất trong công việc, sự tự nguyện và sáng tạo giúp công việc được tiến hành nhanh chóng.

Bên cạnh đó, quản trị về dich vụ góp phần về thành công cho một chiến lược tạo sự khác biệt. Dịch vụ được xem như một yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo sự khác biệt giữa các doanh nghiệp, các công ty cạnh tranh. Một trong những chủ đề quan trọng mà những doanh nghiệp, công ty thành công đều chia sẻ là dịch vụ. Dịch vụ tốt, quản trị dịch vụ tốt với những ý tưởng dịch vụ cao cấp mang ý nghĩa quan trọng sẽ sản sinh ra tiền, đem lại lợi nhuận cũng như đem lại cơ hội kinh doanh hấp dẫn cho doanh nghiệp. Công nghệ đống vai trò quan trọng trong các công ty doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đặc biệt là công nghệ thông tin bởi vì bạn phải xử lý khối lượng thông tin phục vụ cho khách hàng ngày càng lớn và bởi vì khách hang ngày càng yêu cầu với tốc độ cao hơn. Công dụng của công nghệ là nó cải thiện vị thế cạnh tranh của tổ chức điều này được thể hiện qua sự khác biệt về ý tưởng công nghệ, dẫn đầu trong việc đưa ra những sản phẩm, dịch vụ mới với công nghệ cao, có nhiều sản phẩm thay thế…



Tuy nhiên, việc đưa ra ý tưởng, chiến lược khác biệt cần phải biêt lựa chon đúng thời điểm, thời gian phù hợp mới có thể cạnh tranh với các đối thủ. Hiện nay trong một xã hội thần tốc, các cuộc chạy đua diễn ra không ngừng, nếu bạn chậm chân một tích tắc cũng làm bạn xoay sở không kịp dẫn đến con đường nắm lấy cơ hội hấp dẫn cũng không thể có. Việc lựa chọn thời điêm, cũng như thời gian được xem như lợi thế cạnh tranh cho một doanh nghiệp.

Tính cạnh tranh đơn thuần là khả năng sinh lợi trong kinh doanh. Yếu tố quyết định tính cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng cung cấp được cái thị trường đang cần, với một giá hợp lý với cái chất lượng của sản phẩm được cung cấp và làm ăn có lãi. Vì mỗi người có một đam mê , khả năng và cơ hội khác nhau, cho nên bản chất của mỗi doanh nhân và hoàn cảnh đặc thù của họ cho họ một lợi thế cạnh tranh đặc biệt, hoàn toàn không giống với ai. “Lợi thế cạnh tranh” đưa ra khái niệm về Chuỗi giá trị – một khung mẫu cơ sở để suy nghĩ một cách chiến lược về các hoạt động trong một doanh nghiệp; đồng thời đánh giá chí phí và vai trò tương đối của chúng trong việc khác biệt hóa. Khác biệt giữa giá trị với chi phí thực hiện các hoạt động cần thiết để tạo ra sản phẩm , dịch vụ ấy sẽ quyết định mức lợi nhuận. Chuỗi giá trị giúp ta hiểu rõ các nguồn gốc của giá trị cho người mua đảm bảo một mức giá cao hơn cho sản phẩm, cũng như lý do tại sao sản phẩm này có thể thay thế sản phẩm khác. Chiến lược là một cách sắp xếp và kết hợp nội tại các hoạt động một cách nhất quán, cách thức này phân biệt rõ rang doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.

Để thành công trong thị trường cạnh tranh toàn cầu đòi hỏi khả năng thay đổi nhanh chóng và linh hoạt. Sự linh hoạt là khả năng của một hệ thống sản xuất đáp ứng thành công những thay đổi của điều kiện môi trường và những đòi hỏi của quy trình sản xuất. Sự linh hoạt liên quan đến khả năng đáp ứng nhanh chóng và hiệu quả những thay đổi. Nó có thể thay đổi nahnh chóng từ sản phẩm này sang sản phẩm khác, đáp ứng nhanh chóng sự thhhay đổi của nhu cầu, hay khả năng tạo ra nhiều dịch vụ chuyên biệt hóa. Sự linh hoạt có thể đòi hỏi những chiến lược khác biệt như cạnh tranh trong việc thiết kế sản phẩm vượt trội, thiết kế theo nhiều loại sản phẩm…Những công ty có thể thay thế tuyến sản phẩm nhanh chóng đáp ứng với những thay đổi nhu cầu khách hàng mới có thể giành lợi thế cạnh tranh trên một số thị trường nhất định dẫn đến việc nắm bắt được cơ hội hấp dẫn cho doanh nghiệp.

Sự khác biệt là tâm điểm chiến lược của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp với chiến lược tốt có thể giúp daonh nghiệp kiểm soát và phân bổ nguồn lực của tổ chức vào một tư thấ độc nhất và có khả năng tồn tại dựa vào năng lực của daonh nghiệp, những thay đổi tiên đoán của môi trường và những dịch chuyển bất ngờ của đối thủ. Đóchính là sức mạnh của doanh nghiệp.Khám phá sức mạnh của bạn nghĩa là khám phá sức mạnh chiến lược của bạn tốt như thế nào và từ đó nắm bắt lấy cơ hội. Nhưng cũng cần cảnh giác cơ hội sẵn có.Hoạt động kinh doanh sai là sai lầm thường gặp nhất mà các doanh nhân khởi tạo. Chuyển đổi đánh bại hay thất bại đến thành công. Trong thất bại, bạn có thể tìm thấy cái gì tốt và bạn có thể tìm thấy những cơ hội tốt nhất .



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
phanthanhhung_amber



Tổng số bài gửi : 9
Join date : 17/08/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: bài viết tiêu chuẩn sàng lọc   Thu Aug 26, 2010 4:03 pm

YẾU TỐ HIỆU QUẢ KINH TẾ
  1. Lợi nhuận sau thuế :Lợi nhuận sau thuế là khoản tiền doanh nghiệp có được sau khi đã khấu trừ hết thuế. Nó cần được phân biệt rõ với lợi nhuận trước thuế. Lợi nhuận này công ty có thể chia cho cổ đông (dưới dạng cổ tức) hoặc giữ lại để tái đầu tư
    Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Các khoản thuế
    Nếu biên lợi nhuận gộp cao và bền vững thường chuyển thành lợi nhuận sau thuế cao và bền vững. Những cơ hội hấp dẫn có tiềm năng lợi nhuận bền vững ít nhất là từ 10 đến 15% và thường là 20% hoặc cao hơn. Còn những công ty có lợi nhuận sau thuế dưới 5% thì rủi ro, dễ sụp đỗ.
  2. Thời gian hoàn vốn
    Thời gian hoàn vốn trong kinh doanh và kinh tế là khoảng thời gian để một dự án kinh doanh bù được số vốn đầu tư ban đầu.Ví dụ, nếu bạn đầu tư 1000000 đồng, thu hồi được 500 000 đồng/năm thì thời gian hoàn vốn là 2 năm.
    Thông thường, tâm lí của nhà đầu tư đều muốn thời gian hoàn vốn ngắn. Thời gian hoàn vốn là công cụ đơn giản nhất và dễ áp dụng nhất đối với tất cả các cá nhân, bất kể là người làm nghiên cứu hay người kinh doanh.Thời gian hoàn vốn được coi là công cụ phân tích có nhiều hạn chế trong việc ứng dụng, bởi vì nó không tính đến Giá trị thời gian của dòng tiền, rủi ro hay các yếu tố khác như chi phí cơ hội.
    Công thức cơ bản:
    Thời gian hoàn vốn = Giá trị đầu tư : Dòng tiền
    Những công ty có sức hấp dẫn thì thời gian hoàn vốn và thời gian để có dòng tiền dương là 2 năm. Nếu thời gian hoàn vốn và dòng ngân quỹ dương dài hơn 3 năm thì sức hấp dẫn của cơ hội sẽ giảm xuống theo thời gian.
  3. Tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư (ROI) : Để tính ROI - tỷ lệ hoàn vốn đầu tư
    ROI = (Lãi ròng + Lãi vay sau thuế) / Tổng tài sản
    Hoặc ROI = (Lãi ròng + Lãi vay x ( 1- Thuế suất)) / Tổng tài sản
    Hoặc ROI = ((Lãi trước thuế + Lãi vay) x (1 – Thuế suất)) / Tổng tài sản
    Lãi ròng là lợi nhuận sau thế đó Smile
    Về cơ bản, ROI là một phương tiện so sánh khoản thu về từ đồng tiền công ty đã bỏ ra với lợi nhuận có được từ những nơi khác. Nói chung, ROI nên cao một cách hợp lý - hơn mức mà công ty kỳ vọng có được khi đầu tư vào thứ khác, chẳng hạn như vào trái phiếu chính phủ.
    Để đánh giá mức độ hấp đẫn đầu tư của một công ty thông qua tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư(ROI) , các nhà đầu tư cho rằng: ROI hơn 25% một năm là cơ hội cuacj kì hấp đẫn, còn tiềm năng về ROI thấp hơn 15 -20% một năm là không hấp dẫn.
  4. Nhu cầu về vốn: Mỗi doanh nghiệp khởi sự cần một số vốn khác nhau không ít thì nhiều, thậm chí có doanh nghiệp khởi sự với một lượng vốn ít ỏi hoặc không có đồng vốn nào. Một cơ hội được đánh giá là hấp dẫn doanh nghiệp khởi sự có thể được tài trợ và có nhu cầu vốn từ thấp đến trung bình. Nhưng không có nghĩa là khởi sự với nhu cầu vốn lớn là không hấp dẫn, nếu nhu cầu vốn lớn nhưng kế hoạch kinh doanh khả thi, doanh thu, lợi nhuận chắc chắn sẽ tạo được thu hút của nhiều nhà đầu tư. Chỉ không hấp dẫn nếu doanh nghiệp cần quá nhiều vốn hay không thể tìm được nhà tài trợ nào.
  5. Tỷ suất sinh lời nội bộ:IRR là tỉ lệ khấu trừ được sử dụng trong tính toán nguồn vốn để quy giá trị thuần của dòng tiền hiện tại của một dự án cụ thể về 0. Hiểu một cách chung nhất, tỉ lệ hoàn vốn nội bộ càng cao thì khả năng thực thi dự án là càng cao. IRR còn được sử dụng để đo lường, sắp xếp các dự án có triển vọng theo thứ tự, từ đó khiến cho công ty có thể dễ dàng hơn trong việc cân nhắc nên thực hiện dự án nào. Nếu giả định rằng tất cả các yếu tố khác của các dự án là như nhau thì dự án nào có tỉ suất hoàn vốn nội bộ cao nhất thì dự án đó có thể được ưu tiên thực hiện đầu tiên. IRR đôi khi còn được gọi là tỉ suất hoàn vốn kinh tế ERR (economic rate of return)
    khi IRR cao hơn chi phí cơ hội (mức sinh lời dự kiến trên khoản đầu tư tương tự) của vốn được yêu cầu, thì khoản đầu tư được tính đến này nên được thực hiện. Bạn có thể dùng tỷ suất rào của công ty làm mục tiêu IRR. Tỷ suất rào là tỷ suất hoàn vốn nhỏ nhất mà tất cả các khoản đầu tư cho một doanh nghiệp cụ thể phải đạt được; tỷ suất này thường được các giám đốc tài chính quy định. IRR của một vụ đầu tư được tính đến phải vượt tỷ suất rào thì các công ty mới xúc tiến dự án được.
    Một cơ hội được đánh giá là hấp dẫn nhất khi dự án có triển vọng đem lại mức tăng trưởng từ 5 đến 10 lần so với vốn đầu tư ban đầu trong khoảng thời gian từ 5 đến 10 năm. Mức tỷ suất sinh lợi hàng năm trên 25% được xem là một dấu hiệu khả quan.
  6. Lợi nhuận gộp biên: Lợi nhuận gộp biên là giá bán đơn vị sản phẩm trừ đi tất cả các chi phí trực tiếp và chi phí biến đổi. Một công ty có tiềm năng gộp biên cao và bền vững là rất quan trọng. Lợi nhuận gộp biên trên 50% tạo một lớp đệm nội tại lớn cho phép nhiều lỗi sai và mức độ linh hoạt lớn hơn để có thể học hỏi những sai lầm hơn so với tình huống có lợi nhuận gộp biên dưới 20%. Lợi nhuận gộp biên cao và bền vững có nghĩa là doanh nghiệp có thể đạt được điểm hòa vốn sớm thường trong 2 năm đầu. Chẳng hạn nếu lợi nhuận gộp biên chỉ đạt mức 20% thì chứ mỗi đồng tiền tăng lên về chi phí cố đinh (như bảo hiểm, lương, tiền thuê và công cụ dụng cụ) thì doanh thu cần phải tăng lên 5 đồng chỉ để giữ được mức hòa vốn. Tuy nhiên, nếu lợi nhuận gộp biên là 75% thì một đồng tăng thêm về chi phí cố định chỉ cần 1,33 đồng tăng lên về doanh thu. Điều này là một cơ hội hấp dẫn còn ngược lại nếu lợi nhuận gộp dưới 20% nhất là khi chúng yếu ớt dễ vỡ sẽ không hấp dẫn.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
bài viết tiêu chuẩn sàng lọc
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Hướng dẫn thiết kế lắp đặt điện theo tiêu chuẩn IEC
» Bài bình luận của thuyền trưởng Tiếu Văn Kinh
» Các tiêu chuẩn đánh giá ổn định nguyên vẹn tàu
» Tóm tắt nội dung công ước SOLAS
» IMO Standard Marine Communication Phrases (SMCP) on CD

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
KHỞI SỰ KINH DOANH NĂM 2010 :: KẾ HOẠCH CÔNG VIỆC :: DIỄN ĐÀN NHÓM 6-
Chuyển đến