KHỞI SỰ KINH DOANH NĂM 2010

DIỄN ĐÀN KHỞI SỰ KINH DOANH NĂM 2010 CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
 
Trang ChínhPortalCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 tiêu chuẩn sàng lọc. các đặc điểm cá nhân

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
hoangvanhai_f-star



Tổng số bài gửi : 27
Join date : 17/08/2010

Bài gửiTiêu đề: tiêu chuẩn sàng lọc. các đặc điểm cá nhân   Thu Aug 26, 2010 7:11 pm

CÁC ĐẶC TÍNH CÁ NHÂN
I . Mục tiêu và sự phù hơp
hiết lập mục tiêu là một trong những kỹ thuật mà các vận động viên nhà nghề và các doanh nhân thành đạt sử dụng rất phổ biến. Phương pháp này giúp họ tìm thấy được động lực và phương hướng để hoàn thành mục tiêu mà họ đã đặt ra. Tổ chức thời gian, các bước thực hiện cũng như sử dụng các nguồn lực giới hạn để đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất và nhanh chóng nhất.
Một mục tiêu bao gồm những mức độ khác nhau. Đầu tiên bạn phải xác định được mục tiêu cốt lõi. Bạn phải tự vẽ ra bức tranh tổng quát để hoàn thành mục tiêu đó. Sau đó, Bạn chia nhỏ bức tranh này ra thành những bước cụ thể rồi lần lượt hoàn thành những bước này.
Mục tiêu cốt lõi
Bước đầu tiên để xác định mục tiêu cá nhân là bạn phải xem xét cái gì thật sự bạn muốn đạt được trong cuộc đời bạn. Khi bạn đã xác định mục tiêu cuối cùng bạn sẽ nhìn thấy được bức tranh tổng thể bạn phải làm gì và khi phải ra quyết định trước việc gì bạn hãy dựa trên bức tranh tổng thể đó. Trên mỗi lĩnh vực trong cuộc sống ví dụ như: Gia đình, sự nghiệp, quan hệ bạn bè, tài chính, sức khỏe… bạn phải liệt kê ra và phải xác định quan điểm và thái độ của mình đối với từng lĩnh vực. Khi đã liệt kê và xác lập quan điểm cụ thể đối với lĩnh vực được xem là cốt lõi đối với cuộc sống của bạn thì bạn phải ứng dụng chúng một cách nghiêm túc ngay trong cuộc sống. Bạn cũng phải luôn xem lại bản thân mình xem hành động của bạn có phản ánh được những gì bạn mong muốn không và phải luôn tự nhủ với mình rằng “ Mục tiêu này là do bạn tự đặt ra không ai ép buộc bạn, không phải do ba mẹ, không phải do bạn bè…”.
Khi đã có được mục tiêu cốt lõi trong cuộc sống thì bạn hãy lập kế hoạch và chia ra thành những bước nhỏ để có thể thực hiện trong 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng hay 1 năm… và thực hiện từng bước một sẽ giúp bạn dễ dàng đạt được mục tiêu đã đặt ra. Sau đó, bạn hãy liệt kê ra những việc cần làm trong 1 ngày và phải bảo đảm rằng những việc này phải dựa trên mục tiêu cốt lõi của bạn.
Theo đuổi mục tiêu đã đặt ra
Một khi đã xác định được bước đầu tiên trong kế hoạch thì bạn phải thực hiện chúng theo quỹ đạo mà bạn đã định sẵn bằng cách luôn xem lại và cập nhật chúng mỗi ngày. Nhìn nhận mục tiêu cuối cùng của bạn giống như một hiến pháp của một quốc gia. Khi muốn thay đổi chúng bạn phải xem xét thật cẩn trọng.
Phương pháp thiết lập mục tiêu hiệu quả
Những chỉ dẫn sau đây sẽ giúp bạn thiết lập được mục tiêu hiệu quả:
* Xác định mục tiêu của bạn một cách thật rõ ràng: Điều này giúp bạn tránh được sự nhầm lẫn trong khi lập ra kế hoạch;
* Chính xác: Để xác định mục tiêu một cách chính xác bạn phải liệt kê thật cụ thể: thời gian, cũng như những gì cần đạt được trong một kế hoạch. Điều này sẽ giúp cho bạn có thể kiểm tra lại xem bạn có thể đat được mục tiêu ở mức độ nào;
* Xác định mức độ ưu tiên: Khi bạn có nhiều mục tiêu, bạn phải xác định được thứ tự ưu tiên cho từng mục tiêu. Điều này giúp bạn tránh được sự quá tải khi thực hiện nhiều mục tiêu cùng một lúc và dành thời gian và sức lực cho mục tiêu cao nhất nhiều hơn;
* Viết từng mục tiêu cụ thể ra: Việc này rất quan trọng, vì theo thói quen bạn thường giữ chúng trong đầu nhưng nếu bạn viết chúng ra nó sẽ giúp bạn có thêm động lực và luôn nhắc nhở bạn phải hoàn thành các mục tiêu đó;
* Chia thành những bước nhỏ: Nếu một kế họach quá lớn, bạn sẽ khó thực hiện và không thể thấy được thành quả cũng như đạt được kế hoạch đó ở mức độ nào;
* Thiết lập mục tiêu phải thực tế: Luôn quan tâm đến những mục tiêu bạn đã lập ra phải bảo đảm rằng bạn luôn kiểm soát được chúng. Bạn có thể không đạt được mục tiêu bằng nhiều lý do như: thiếu may mắn, những yếu tố không kiểm sóat như: thời tiết, môi trường, sự thiếu công bằng, tai nạn….Nhưng bạn không thể thất bại với lý do không không tuân thủ theo kế hoạch đã đạt ra, điều này làm bạn chán nản và dễ dàng buông xuôi.
* Thiết lập mục tiêu một cách thiết thực: Khi thiết lập mục tiêu bạn phải bảo đảm kế hoạch này nằm trong khả năng của bạn. Ban đầu phải đi từ dễ đến khó, không đặt ra những mục tiêu thật khó vì nó sẽ dễ làm bạn chán nản.
* Đừng thiết lập những mục tiêu quá dễ dàng: Mục tiêu quá dễ là một con dao hai lưỡi, nó giúp bạn dễ dàng đạt được nhưng cũng dễ làm bạn mất đi động lực.
Đạt được mục tiêu:
Khi bạn đạt được mục tiêu dành thời gian để tận hưởng những kết quả bạn đã đạt được quan sát những bước tiếp theo trong kế hoạch.
Khi đạt được mục tiêu bạn cần rút ra kinh nghiệm và xem lại toàn bộ kế hoạch của mình:
* Nếu bạn đạt được các mục tiêu quá dễ dàng, bạn phải đặt mục tiêu tiếp theo khó hơn;
* Nếu bạn đạt được mục tiêu quá khó khăn, bạn phải đặt mục tiêu tiếp theo dễ dàng hơn;
* Nếu sau khi đạt được mục tiêu ban đầu và bạn nhận ra phải thay đổi kế hoạch tiếp theo thì đừng ngại ngần thay đổi nhưng phải cân nhắc cẩn thận;
* Nếu trong khi thực hiện kế họach bạn nhận thấy rằng: Nỗ lực của bạn thì rất nhiều so với thành quả bạn đạt được. Bạn phải xem lại có nên đặt ra kế hoạch để khắc phục việc đó hay không.
Nếu bạn thất bại điều đó không quan trọng. Quan trọng là bạn đã có được kinh nghiệm từ thất bại đó. Hãy chiêm nghiệm thật kỹ bài học đó và bắt đầu lại.
Hãy nhớ rằng mục tiêu của bạn sẽ thay đổi song song với sự phát triển của cá nhân bạn. Nếu mục tiêu không còn kích thích bạn thí hãy bỏ chúng đi! Và luôn nghĩ rằng bạn điều khiển chúng chứ bạn không bị chúng điều khiển. Mục đích mang lại cho bạn sự kích thích thật sự, sự thỏa mãn và cảm giác thành công.
Các điểm lưu ý:
Phương pháp thiết lập mục tiêu là:
* Xác định rõ mục tiêu mà bạn muốn đạt được;
* Phân biệt điều nào là quan trọng trong mớ hỗn độn;
* Tạo động lực giúp bạn đạt được mục tiêu;
* Xây dựng lòng tin cho bạn dựa trên những kết quả đạt được.
Đừng quên tận hưởng kết quả mà bạn đạt được. Rút ra bài học cần thiết và ứng dụng bài học đó vào những bước tiếp theo.
II. Chi phí cơ hội
là một khái niệm hữu ích được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn. Nó được vận dụng rất thường xuyên và rộng rãi trong đời sống kinh tế. Chi phí cơ hội dựa trên cơ sở là nguồn lực khan hiếm nên buộc chúng ta phải thực hiện sự lựa chọn. Lựa chọn tức là thực hiện sự đánh đổi, tức là để nhận được một lợi ích nào đó buộc chúng ta phải đánh đổi hoặc bỏ qua một chi phí nhất định cho nó. Như vậy, chi phí cơ hội của một phương án được lựa chọn là giá trị của phương án tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện sự lựa chọn đó (và là những lợi ích mất đi khi chọn phương án này mà không chọn phương án khác; Phương án được chọn khác có thể tốt hơn phương án đã chọn). Do quy luật về sự khan hiếm nên luôn tồn tại những sự đánh đổi khi thực hiện các sự lựa chọn. Hay nói cách khác, chi phí cơ hội luôn tồn tại.
Ví dụ: 1 sinh viên ra trường phải đánh đổi giữa công việc ổn định do bố mẹ đã định sẳn cho trước hay là cùng 1 nhóm bạn bỏ vốn ra cùng nhau thành lập công ty và sẳn sàng chấp nhận rủi ro chấp nhận những quy luật khắc nghiệt của thương trường
Chi phí cơ hội được sử dụng như là căn cứ để so sánh với lợi ích thu được khi thực hiện các sự lựa chọn, và đó là chi phí kinh tế. Các nhà kinh doanh và người tiêu dùng thực hiện lựa chọn trên cơ sở so sánh lợi ích thu được và chi phí bỏ ra tại mỗi điểm biên (tức là tại mỗi đơn vị hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hoặc tiêu dùng thêm). Ví dụ trong việc lựa chọn lượng hàng hóa tiêu dùng tối ưu, chi phí cơ hội của mỗi đơn vị hàng hóa được tiêu dùng thêm là giá cả một đơn vị sản phẩm, và nó được so sánh với lợi ích cận biên thu được khi tiêu dùng thêm đơn vị sản phẩm đó. Trong việc lựa chọn lượng hàng hóa sản xuất tối ưu, chi phí cơ hội của mỗi đơn vị hàng hóa sản xuất thêm là chi phí cận biên của mỗi đơn vị sản phẩm sản xuất thêm, và được so sánh với doanh thu cận biên của đơn vị sản phẩm tăng thêm đó. Việc phân tích, so sánh lợi ích - chi phí tại điểm biên chính là nội dung của phương pháp phân tích cận biên
III . Rui ro và phần thưởng
1. Rui ro
Mỗi một cơ hội đầu tư luôn mang theo những rủi ro tiềm ẩn. Trong một số thương vụ đầu tư, một loại rủi ro nhất định có thể chiếm ưu thế hơn, và những rủi ro khác chỉ là thứ yếu. Hiểu đầy đủ về những loại rủi ro chính yếu là cần thiết để mạo hiểm có tính toán và đưa ra những quyết định đầu tư nhanh nhạy.
a. Rủi ro vỡ nợ
Đây là loại rủi ro khủng khiếp nhất trong tất cả các loại rủi ro đầu tư. Rủi ro không trả được nợ kể đến cả vốn và lãi suất. Đối với tất cả các khoản vay không đảm bảo, ví dụ như vay dựa trên giấy hẹn trả tiền, tiền đặt cọc của công ty, rủi ro này là rất cao. Do không được đảm bảo, bạn không thể làm được gì ngoại trừ việc đi kiện khi tình trạng mất khả năng trả nợ xảy ra.
Tuy nhiên, cho dù bạn có kiện ra tòa và cho dù bạn thắng, thì bạn vẫn cần phải xem xét ai là người có lợi ở đây - bạn, người đi vay hay ông luật sư!
Vì vậy, cách tốt nhất là tìm hiểu kỹ xem công ty bạn có ý định đầu tư vào đang đứng ở đâu trong bảng xếp hạng về khả năng tín dụng.
b. Rủi ro kinh doanh
Giá trị thị trường của thương vụ đầu tư vào cổ phiếu phụ thuộc kết quả hoạt động kinh doanh của công ty bạn đầu tư vào. Nếu tình trạng kinh doanh của công ty bất ổn và công ty hoạt động không tốt, giá trị của cổ phiếu mà bạn đang nắm giữ có thể giảm giá trị nhanh chóng.
Tình trạng này luôn luôn xảy ra trong trường hợp cổ phiếu của công ty lập kỷ lục trên thị trường IPO, phát hành với lãi suất cao khi nền kinh tế đang trong tình trạng tốt và thị trường chứng khoán đang làm tăng giá cổ phần. Vì thế khi công ty không thể phân bổ như họ đã hứa, giá cổ phiếu của họ sẽ giảm trầm trọng.
Khi bạn đầu tư tiền bạc vào các doanh nghiệp cho dù là thương mại, công nghiệp hay sản xuất, luôn luôn tồn tại khả năng ngành kinh doanh đó thất bại; và sau đó có thể bạn sẽ không thu được gì, hoặc thu được rất ít, trên cơ sở phân chia theo tỉ lệ khi công ty bị phá sản.
Rủi ro lớn nhất trong quá trình mua cổ phiếu ở nhiều doanh nghiệp mới nổi đó là bản thân người chủ doanh nghiệp khi anh ta lỡ vung tay quá trán hoặc dùng thủ đoạn trong kinh doanh, khi đó công ty có thể rơi vào tình trạng phá sản.
c. Rủi ro thanh khoản
Tiền bạc sẽ trở thành thứ không có giá trị hoặc giá trị hạn chế nếu nó không sẵn sàng trong túi khi bạn cần nó. Theo thuật ngữ tài chính, tính sẵn sàn sử dụng của đồng tiền được gọi là khả năng thanh khoản. Một vụ đầu tư không chỉ đòi hỏi phải an toàn và có khả năng sinh lời, mà nó còn đòi hỏi cả tính thanh khoản hợp lý nữa.
Một tài sản hay một vụ đầu tư được coi là có khả năng thanh khoản nếu nó có thể chuyển đổi sang dạng tiền mặt một cách nhanh chóng, và chỉ bị mất một phần nhỏ giá trị. Rủi ro thanh khoản là khi nhà đầu tư không thể thấy rõ giá trị của vụ đầu tư khi cần. Tình trạng này có thể xảy ra khi cổ phiếu không thể bán trên thị trường hoặc bị mất giá quá lớn.
Tài khoản vãng lai và tài khoản tiết kiệm ở một ngân hàng, có thể chủ động mua bán cổ phiếu và giấy nợ và đều là những vụ đầu tư tương đối thanh khoản. Trong trường hợp bạn có tài khoản cố định tại ngân hàng nhưng bạn có thể tăng số tiền vay lên tới 75% hay 90% giá trị tài khoản cố định này, thì tài khoản này cũng là một vụ đầu tư thanh khoản.
Tuy nhiên, không nên khẳng định rằng tất cả cổ phiếu và giấy nợ niêm yết đều là những tài sản có khả năng thanh khoản. Trong số 8.000 cổ phiếu được niêm yết, thì khả năng mua bán chủ động chỉ giới hạn cho khoảng 1.000 cổ phiếu mà thôi. Nhóm cổ phiếu loại A thanh khoản hơn nhóm cổ phiếu loại B. Đôi khi, thị trường thứ cấp dành cho giấy nợ cũng không quá thanh khoản.
d. Rủi ro sức mua hay rủi ro lạm phát
Lạm phát có nghĩa là bạn rơi vào tình trạng túng quẫn mặc dù có rất nhiều tiền trong túi. Khi giá cả leo thang mạnh, sức mua của đồng tiền giảm. Một số nhà kinh tế học coi lạm phát là một loại thuế trá hình.
Xu hướng tốc độ lạm phát ngày càng gia tăng trên toàn cầu đang đặt ra thách thức lớn cho chính phủ các quốc gia cũng như các ngân hàng trung ương. Gía dầu thô tăng mạnh đột biến trên thị trường quốc tế cũng như các mặt hàng thực phẩm trong thời gian qua là hai mối quan ngại lớn mà nền kinh tế toàn cầu đang phải đối mặt.
Điều trớ trêu là những vụ đầu tư có lợi tức cố định được xem là tương đối an toàn như tài khoản tại ngân hàng và các công cụ tiết kiệm nhỏ lẻ lại rất dễ vấp phải rủi ro lạm phát bởi vì giá cả leo thang làm tàn phá sức mua của nguồn vốn. Những vụ đầu tư được coi là rủi ro hơn như cổ phiếu lại có khả năng giữ được giá trị đồng vốn trong trung hạn.
e. Rủi ro lãi suất
Trong kỷ nguyên mới với quy định luật pháp dường như cởi mở hơn, sự biến động thất thường của tỉ lệ lãi suất là một hiện tượng phổ biến, kèm theo là tác động hậu quả lên giá trị đầu tư và lợi nhuận. Rủi ro lãi suất ảnh hưởng tới các chứng khoán lợi tức cố định và dùng để chỉ rủi ro xảy ra khi giá trị khoản đầu tư thay theo sự thay đổi mức lãi suất.
Ví dụ như bạn đầu tư vào một chứng khoán có mức sinh lợi là 8% trong vòng ba năm. Nếu tỉ lệ lãi suất tăng lên 9% một năm, một chứng khoán tương tự có thể được phát hành với mức lãi suất 9% một năm. Do mức sinh lợi thấp hơn, nên giá trị chứng khoán của bạn cũng bị giảm theo.
f. Rủi ro chính trị
Chính phủ có quyền lực đặc biệt tác động tới nền kinh tế; chính phủ có thể đưa ra một đạo luật tác động tới một số ngành công nghiệp hoặc một số công ty mà nhà đầu tư đang đầu tư vào, hoặc chính phủ có thể ban hành luật mới điều chỉnh trần lãi suất ngân hàng, xoá nợ cho một số nhóm ngành cụ thể của xã hội.
Khi quốc gia có một vị thủ tướng hay tổng thống mới, họ có những hệ tư tưởng kinh tế và chính trị khác nhau. Trong quá trình này, vận mệnh của nhiều ngành và nhiều công ty có thể trải qua một sự thay đổi lớn lao. Thay đổi các chính sách chính phủ mới cũng là một nguyên nhân của rủi ro chính trị.
Sự biến động của tình hình chính trị quốc tế cũng gây ảnh hưởng tới bối cảnh kinh tế trong nước, đặc biệt là trong giai đoạn toàn cầu hóa. Điều này đã được minh chứng cụ thể sau sự kiện ngày 11/9 tại Hoa Kỳ và sau khi cuộc chiến tranh Iraq nổ ra vào đầu năm 2003, khi đó nền kinh tế
- Thị trường cổ phiếu đang trong giai đoạn giảm giá thường dự đoán các cuộc khủng hoảng kinh tế.
- Thị trường trái phiếu giảm giá thường là do kết quả từ lãi suất thị trường cao, ngược lại, do mức lạm phát cao thúc đẩy.của rất nhiều quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng, từ quốc gia kém phát triển tới những quốc gia phát triển nhất.
g. Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường là rủi ro dao động giá cả chứng khoán do những nhân tố ảnh hưởng tới thị trường nói chung. Thảm họa tự nhiên cũng có thể là một trong những nhân tố này. Thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu bị ảnh hưởng do giá cả tăng và giảm do sự qua lại của những giai đoạn giá cổ phần tăng và giảm. Vì vậy:
- Thị trường chứng khoán tăng giá thường thấy trong giai đoạn nền kinh tế phục hồi và bủng nổ.
- Thị trường chứng khoán tăng giá là kết quả của tỉ lệ lãi suất thấp và tỉ lệ lạm phát thấp.
2 . Phần thưởng
Có hai loại phần thưởng: tinh thần và vật chất. Phần thưởng tinh thần đem lại sự thỏa mãn cá nhân và không thể định lượng được như ý thức thành đạt, sự kiểm soát cá nhân đối với công việc, và cảm giác công việc của mình được đánh giá cao.
Phần thưởng vật chất là hình thức công nhận cụ thể như tăng lương, thăng tiến, tiền thưởng,…
Cả hai loại phần thưởng này đều hiện diện trong hệ thống quản lý hiệu suất làm việc, như giáo sư Brian Hall của Đại học Kinh doanh Harvard nói: "Nhân viên được thúc đẩy bởi cả phần thưởng tinh thần lẫn vật chất". Cả phần thưởng tinh thần và vật chất đều thúc đẩy việc tạo ra giá trị và được các nhà quản lý sử dụng hiệu quả. Tuy nhiên, hầu hết các cơ chế khen thưởng của công ty lại được xây dựng quanh các phần thưởng vật chất, vì tài chính là động lực rõ ràng và hấp dẫn nhất mà công ty có thể mang lại. Một công ty không thể nói suông với nhân viên bán hàng: "Nếu anh đạt chỉ tiêu doanh số trong năm nay, anh sẽ được mọi nguời nể trọng hơn", mà cần phải nói: "Nếu anh đạt chỉ tiêu doanh số đề ra, anh sẽ được thưởng 5.000 đô la".
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
tiêu chuẩn sàng lọc. các đặc điểm cá nhân
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Hướng dẫn thiết kế lắp đặt điện theo tiêu chuẩn IEC
» Bài bình luận của thuyền trưởng Tiếu Văn Kinh
» Các tiêu chuẩn đánh giá ổn định nguyên vẹn tàu
» Tóm tắt nội dung công ước SOLAS
» IMO Standard Marine Communication Phrases (SMCP) on CD

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
KHỞI SỰ KINH DOANH NĂM 2010 :: KẾ HOẠCH CÔNG VIỆC :: DIỄN ĐÀN NHÓM 3-
Chuyển đến